Quy trình thi công ép cọc bê tông

Quy trình thi công ép cọc bê tông

- Cọc ép là cọc được hạ bằng năng lượng tĩnh, không gây nên xung lượng lên đầu cọc.
- Tải trọng thiết kế là giá trị tải trọng do Thiết kế dự tính tác dụng lên cọc.
- Lực ép nhỏ nhất (Pép)min là lực ép do Thiết kế quy định để đảm bảo tải trọng thiết kế lên cọc, thông thường lấy bằng 150 → 200% tải trọng thiết kế;
- Lực ép lớn nhất (Pép)max là lực ép do Thiết kế quy định, không vượt quá sức chịu tải của vật liệu cọc; được tính toán theo kết quả xuyên tĩnh, khi không có kết quả này thì thường lấy bằng 200 → 300% tải trọng thiết kế.
Ghi chú: Để biết được khả năng ép của kích thủy lực thì trước tiên phải đề nghị đơn vị ép cọc cung cấp giấy kiểm định đồng hồ và giàn ép thủy lực, trong kết quả kiển định sẽ có bảng tra chỉ số trên đồng hồ (kg/cm2) và tương đương với chỉ số này là lực ép đầu cọc (Tấn). Hai số liệu này quan hệ với nhau bằng “phương trình quan hệ” có trong kết qủa kiểm định. Phải lưu ý nữa là số hiệu đồng hồ và giàn ép có đúng như giấy kiểm định không.
Ưu nhược điểm của phương pháp thi công ép cọc
Hiện nay có nhiều phương pháp để th công cọc như búa đóng, kích ép, khoan nhồi… Việc lựa chọn và sử dụng phương pháp nào phụ thuộc vào địa chất công trình và vị trí công trình. Ngoài ra còn phụ thuộc vào chiều dài cọc, máy móc thiết bị phục vụ thi công. Một trong các phương pháp thi công cọc đó là ép cọc bằng kích ép.
thi-cong-ep-coc-be-tong
Ưu điểm:
- Êm, không gây ra tiếng ồn
- Không gây ra chấn động cho các công trình khác
- Khả năng kiểm tra chất lượng tốt hơn: từng đoạn cọc được ép thử dưới lực ép và ta xác định được sức chịu tải của cọc qua lực ép cuối cùng.
Nhược điểm:
- Không thi công được cọc có sức chịu tải lớn hoặc lớp đất xấu cọc phải xuyên qua quá dầy
Chuẩn bị mặt bằng thi công
- Chuẩn bị mặt bằng,dọn dẹp và san bằng các chướng ngại vật.
- Vận chuyển cọc bêtông đến công trình. Phải tập kết cọc trước ngày ép từ 1 đến 2 ngày (cọc được mua từ các nhà máy sản xuất cọc)
- Khu xếp cọc phải đặt ngoài khu vực ép cọc, đường đi vanạ chuyển cọc phải banừg phẳng, không gồ ghề lồi lõm
- Cọc phải vạch sẵn trục để thuận tiện cho việc sử dụng máy kinh vĩ cân chỉnh
- Cần loại bỏ những cọc không đủ chất lượng, không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật
- Trước khi đem cọc đi ép đại trà, phải ép thí nghiệm 1 – 2% số lượng cọc
- Phải có đầy đủ các báo cáo khảo sát địa chất công trình, kết quả xuyên tĩnh
Đối với cọc bêtông cần lưu ý: Độ vênh cho phép của vành thép nối không lớn hơn 1% so với mặt phẳng vuông góc trục cọc. Bề mặt bê tông đầu cọc phải phẳng. Trục của đoạn cọc phải đi qua tâm và vuông góc với 2 tiết diện đầu cọc. Mặt phẳng bê tông đầu cọc và mặt phẳng chứa các mép vành thép nối phải trùng nhau. Chỉ chấp nhận trường hợp mặt phẳng bê tông song song và nhô cao hơn mặt phẳng mép vành thép nối không quá 1 mm.
Vị trí ép cọc
- Vị trí ép cọc được xác định đúng theo bản vẽ thiết kế: phải đầy đủ khoảng cách, sự phân bố các cọc trong đài móng với điểm giao nhau giữa các trục.
- Để cho việc định vị thuận lợi và chính xác, ta cần phải lấy 2 điểm móco nằm ngoài để kiểm tra các trục có thể bị mất trong quá trình thi công. Thực tế, vị trí các cọc được đánh dấu bằng các thanh thép dài từ 20 đến 30cm
- Từ các giao điểm các đường tim cọc, ta xác định tâm của móng, từ đó ta xác định tâm các cọc
Lựa chọn phương án thi công ép cọc
Việc thi công ép cọc ở ngoài công trường có nhiều phương án ép, sau đây là hai phương án ép phổ biến:
+ Phương án 1
Nội dung: Tiến hành đào hố móng đến cao trình đỉnh cọc, sau đó mang máy móc, thiết bị ép đến và tiến hành ép cọc đến độ sâu cần thiết. Ưu điểm
- Đào hố móng thuận lợi, không bị cản trở bởi các đầu cọc
- Không phải ép âm
Nhược điểm
- Ở Những nơi có mực nước ngầm cao, việc đào hố móng trước rồi mới thi công ép cọc khó thực hiện được
- Khi thi công ép cọc mà gặp trời mưa thì nhất thiết phải có biện pháp bơm hút nước ra khỏi hố móng
- Việc di chuyển máy móc, thiết bị thi công gặp nhiều khó khăn
- Với mặt bằng thi công chật hẹp, xung quanh đang tồn tại những công trình thì việc thi công theo phương án này gặp nhiều khó khăn, đôi khi không thực hiện được
+ Phương án 2
Nội dung: Tiến hành san phẳng mặt bằng để tiện di chuyển thiết bị ép và vận chuyển sau đó tiến hành ép cọc theo yêu cầu. Như vậy, để đạt được cao trình đỉnh cọc cần phải ép âm. Cần phải chuẩn bị các đoạn cọc dẫn bằng thép hoặc bằng bê tông cốt thép để cọc ép được tới chiều sâu thiết kế. Sau khi ép cọc xong ta sẽ tiến hành đào đất để thi công phần đài, hệ giằng đài cọc Ưu điểm:
- Việc di chuyển thiết bị ép cọc và vận chuyển cọc có nhiều thuận lợi kể cả khi gặp trời mưa
- Không bị phụ thuộc vào mực nước ngầm
- Tốc độ thi công nhanh
Nhược điểm:
- Phải thêm các đoạn cọc dẫn để ép âm
- Công tác đào đất hố móng khó khăn, phải đào thủ công nhiều, thời gian thi công lâu vì rất khó thi công cơ giới hóa
Kết luận Căn cứ vào ưu nhược điểm của 2 phương án trên, căn cứ vào mặt bằng công trình, phương án đào đất hố móng, ta sẽ chọn ra phương án thi công ép cọc. Tuy nhiên, phương án 2, kết hợp đào hố móng dạng ao sẽ kết hợp được nhiều ưu điểm để tiến thành thi công có hiệu quả.
Các yêu cầu kỹ thuật đối với đoạn ép cọc
- Cốt thép dọc của đoạn cọc phải hàn vào vành thép nối theo cả 2 bên của thép dọc và trên suốt chiều cao vành
- Vành thép nối phải phẳng, không được vênh
- Bề mặt ở đầu hai đoạn cọc nối phải tiếp xúc khít với nhau.
- Kích thước các bản mã đúng với thiết kế và phải ≥ 4mm
- Trục của đoạn cọc được nối trùng với phương nén
- Kiểm tra kích thước đường hàn so với thiết kế, đường hàn nối cọc phải có trên cả 4 mặt của cọc. Trên mỗi mặt cọc, chiều dài đường hàn không nhỏ hơn 10cm.
Yêu cầu đối với việc hàn nối cọc:
- Trục của đoạn cọc được nối trùng với phương nén.
- Bề mặt bê tông ở 2 đầu đọc cọc phải tiếp xúc khít với nhau, trường hợp tiếp xúc không khít phải có biện pháp làm khít.
- Kích thước đường hàn phải đảm bảo so với thiết kế.
- Đường hàn nối các đoạn cọc phải có đều trên cả 4 mặt của cọc theo thiết kế.
- Bề mặt các chỗ tiếp xúc phải phẳng, sai lệch không quá 1% và không có ba via.
+ Yêu cầu kỹ thuật với thiết bị ép cọc
Thiết bị ép cọc phải có các chứng chỉ , có lý lịch máy do nơi sản xuất cấp và cơ quan thẩm quyền kiểm tra xác nhận đặc tính kỹ thuật của thiết bị.
Đối với thiết bị ép cọc bằng hệ kích thuỷ lực cần ghi các đặc tính kỹ thuật cơ bản sau:
+ Lưu lượng bơm dầu
+ áp lực bơm dầu lớn nhất
+ Diện tích đáy pittông
+ Hành trình hữu hiệu của pittông
+ Phiếu kiểm định chất lượng đồng hồ đo áp lực đầu và van chịu áp do cơ quan có thẩm quyền cấp.
Thiết bị ép cọc được lựa chọn để sử dụng vào công trình phải thoả mãn các yêu cầu sau:
+ Lực ép lớn nhất của thiết bị không nhỏ hơn 1.4 lần lực ép lớn nhất (Pep)max tác động lên cọc do thiết kế quy định
+ Lực ép của thiết bị phải đảm bảo tác dụng đúng dọc trục cọc khi ép đỉnh hoặc tác dụng đều trên các mặt bên cọc khi ép ôm.
+ Quá trình ép không gây ra lực ngang tác động vào cọc
+ Chuyển động của pittông kích hoặc tời cá phải đều và khống chế được tốc độ ép cọc.
+ Đồng hồ đo áp lực phải phù hợp với khoảng lực đo.
+ Thiết bị ép cọc phải có van giữ được áp lực khi tắt máy.
+ Thiết bị ép cọc phải đảm bảo điều kiện vận hành theo đúng các quy định về an toàn lao động khi thi công.
Giá trị áp lực đo lớn nhất của đồng hồ không vượt quá hai lần áp lực đo khi ép cọc. Chỉ nên huy động khoảng 0,7 – 0,8 khả năng tối đa của thiết bị .
- Lực ép danh định lớn nhất của thiết bị không nhỏ hơn 1,4 lần lực ép lớn nhất
- Pép max yêu cầu theo quy định thiết kế
- Lức nén của kích phải đảm bảo tác dụng dọc trục cọc khi ép đỉnh, không gây lực ngang khi ép
- Chuyển động của pittông kích phải đều, và khống chế được tốc độ ép
- Đồng hồ đo áp lực phải tương xứng với khoảng lực đo
- Thiết bị ép cọc phải đảm bảo điều kiện để vận hành theo đúng quy định về an toàn lao động khi thi công
- Giá trị đo áp lực lớn nhất của đồng hồ không vượt quá 2 lần áp lực đo khi ép cọc
- Chỉ huy động từ (0,7 ÷ 0,8 ) khả năng tối đa của thiết bị ép cọc
- Trong quá trình ép cọc phải làm chủ được tốc độ ép để đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật
Tính toán chọn cẩu phục vụ
Căn cứ vào trọng lượng bản thân của cọc, của đối trọng và độ cao nâng cẩu cần thiết để chọn cẩu thi công ép cọc
- Sức nâng Qmax/Qmin
- Tầm với Rmax/Rmin
- Chiều cao nâng: Hmax/Hmin
- Độ dài cần chính L
- Độ dài cần phụ
- Thời gian
- Vận tốc quay cần
Phương pháp ép cọc và chọn máy ép cọc
Ép cọc thường dùng 2 phương pháp:
- Ép đỉnh
- Ép ôm
1. Ép đỉnh
Lực ép được tác dụng từ đỉnh cọc để ấn cọc xuống
Ưu điểm
- Toàn bộ lực ép do kích thủy lực tạo ra được truyền trực tiếp lên đầu cọc chuyển thành hiệu quả ép. Khi ép qua các lớp đất có ma sát nội tương đối cao như á cát, sét dẻo cứng… lực ép có thể thắng lực cản do ma sát để hạ cọc xuống sâu dễ dàng.
Nhược điểm
- Cần phải có hai hệ khung giá. Hệ khung giá cố định và hệ khung giá di động, với chiều cao tổng cộng của hai hệ khung giá này phải lớn hơn chiều dài một đoạn cọc: nếu 1 đoạn cọc dài 6m thì khung giá phải từ 7 ÷ 8m mới có thể ép được cọc. Vì vậy khi thiết kế cọc ép, chiều dài một đoạn cọc phải khống chế bởi chiều cao giá ép trong khoảng 6 – 8m
2. Ép ôm
Lực ép được tác dụng từ hai bên hông cọc do chấu ma sát tạo nên để ép cọc xuống
Ưu điểm
- Do biện pháp ép từ 2 bên hông của cọc, máy ép không cần phải có hệ khung giá di động, chiều dài đoạn cọc ép có thể dài hơn.
Nhược điểm
- Ép cọc từ hai bên hông cọc thông qua 2 chấu ma sát do do khi ép qua các lớp ma sát có nội ma sát tương đối cao như á sét, sét dẻo cứng… lực ép hông thường không thể thắng được lực cản do ma sát tăng để hạ cọc xuống sâu.
- Nói chung, phương pháp này không được sử dụng rộng rãi bằng phương pháp ép đỉnh
Các bộ phận của máy ép cọc (ép đỉnh)
+ Đối trọng
Trạm bơm thủy lực gồm có:
- Động cơ điện
- Bơm thủy lực ngăn kéo
- Ống tuy-ô thủy lực và giác thủy lực
Dàn máy ép cọc: gồm có khung dẫn với giá xi lanh, khung dẫn là một lồng thép được hàn thành khung bởi các thanh thép góc và tấm thép dầy. Bộ dàn hở 2 đầu để cọc có thể đi từ trên xuống dưới. Khung dẫn gắn với động cơ của xi-lanh, khung dẫn có thể lên xuống theo trục hành trình của xi-lanh
- Dàn máy có thể di chuyển nhờ chỗ lỗ bắt các bulông
Bệ máy ép cọc gồm 2 thanh thép hình chữ I loại lớn liên kết với dàn máy ứng với khoảng cách hai hàng cọc để có thể đứng tại 1 vị trí ép được nhiều cọc mà không cần phải di chuyển bệ máy. Có thể ép một lúc nhiều cọc bằng cách nối bulông đẩy dàn máy sang vị trí ép cọc khác bố trí trong cùng một hàng cọc.
Máy ép cọc cần có lực ép P gồm 2 kích thuỷ lực mỗi kích có Pmax = P/2 (T)
Nguyên lý làm việc
Dàn máy được lắp ráp với bệ máy bằng 2 chốt như vậy có thể di chuyển ép một số cọc khi bệ máy cố định tại một chỗ, giảm số lần cẩu đối trọng
Ống thả cọc được 2 xilanh nâng lên hạ xuống, năng lượng thủy lực truyền đi từ trạm bơm qua xilanh qua ống thả cọc và qua gối đầu cọc truyền sang cọc, với đối trọng năng lượng sẽ biến thành lực dọc trục ép cọc xuống đất.

Sap2000.v15 Full crack

Sap2000 là một phần mềm tính kết cấu quen thuộc của các kỹ sư xây dựng. Đây có thể nói là phần mềm tính kết cấu được sử dụng nhiều nhất tại Việt Nam....


                                                       

Sap2000 v15 là phần mềm xây dựng mô hình kết cấu quen thuộc của các kỹ sư xây dựng . Đây có thể nói là phần mềm tính kết cấu được sử dụng nhiều nhất tại Việt Nam...

Đây là phần mềm phân tích, tính toán kết cấu tổng hợp nổi tiếng của hãng CSI (hoa Kỳ). Chương trình phân tích kết cấu SAP 2000 đã liên tục phát triển, hoàn thiện qua nhiều phiên bản và được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực cơ học, kết cấu công trình.

download sap2000 v15 full phần mềm tại đây( báo gồm crack +hướng dẫn )
http://www.mediafire.com/?hmgg3c7kuedlg 

http://www.mediafire.com/?pwg555uwdhgx1
http://www.mediafire.com/?xp1zh3acyroh3
http://www.mediafire.com/?9r0a8l29omhe1
http://www.mediafire.com/?s1gp8y0v9pa5r
http://www.mediafire.com/?7x8844b52h5vy4

Bài viết liên quan Sap 2000.v14.2.2

Phần mềm Sap 2000v14.2.2 Download và Crack

Download Sap 2000v14.2.2, Phần mềm phân tích kết cấu chuyên dụng cho dân Xây Dựng, tải sap phiên bản 14, sap 14 full crack



Sap 2000 Version 14.2.2

Sap là 1 phần mềm tính toán và thiết kế kết cấu vô cùng mạnh mẽ trong ngành xây dựng, giao thông, thủy lợi, tuy đã có SAP2000 v15 nhưng việc giảng dạy trong các trường đại học, cao đẳng, trung cấp vẫn sử dụng các phiên bản cũ. Bài viết này mình sẽ cung cấp cho các bạn phiên bản Sap v14.2.2, có crack kèm theo.

Các tên SAP đã được đồng nghĩa với nhà nước-of-the-art phương pháp phân tích kể từ khi được giới thiệu cách đây 30 năm. SAP2000 sau trong cùng một truyền thống, giao diện người dùng trực quan và linh rất tinh vi được hỗ trợ bởi một động cơ unmatched phân tích và các công cụ thiết kế cho các kỹ sư làm việc trên giao thông vận tải, công nghiệp, công trình công cộng, thể thao, và các cơ sở khác.

Từ đối tượng 3D dựa trên mô hình đồ họa môi trường nhiều tùy chọn phân tích và thiết kế hoàn toàn tích hợp trên một giao diện người dùng mạnh mẽ, SAP2000 đã chứng minh được, tích hợp sản xuất và thực hành chương trình tổng hợp mục đích cơ cấu trên thị trường ngày hôm nay. Giao diện trực quan cho phép bạn tạo ra các mô hình cấu trúc nhanh chóng và trực quan mà không học tập lâu dài sự chậm trễ đường cong. Bây giờ bạn có thể khai thác sức mạnh của SAP2000 cho tất cả các phân tích của bạn và nhiệm vụ thiết kế, bao gồm cả vấn đề nhỏ-to-ngày. Mô hình phức tạp có thể được tạo ra và chia lưới với xây dựng mạnh mẽ trong các mẫu. Tích hợp thiết kế các tính năng mã có thể tự động tạo ra gió, sóng, cầu, và tải trọng động đất với thép tự động toàn diện và kiểm tra thiết kế mã cụ thể cho mỗi Mỹ, Canada và các tiêu chuẩn thiết kế quốc tế

kỹ thuật nâng cao phân tích cho phép bước theo các bước phân tích biến dạng lớn, Eigen và phân tích Ritz dựa trên độ cứng các trường hợp phi tuyến, phân tích cáp dây xích, vật liệu phân tích phi tuyến với các bản lề chất xơ, nhiều lớp vỏ yếu tố phi tuyến, phân tích ổn định, phân tích sụp đổ tiến bộ, phương pháp năng lượng cho drift kiểm soát, bộ giảm chấn phụ thuộc vào vận tốc, cơ sở cách ly, dẻo hỗ trợ và xây dựng phi tuyến phân đoạn phân tích. Phân tích phi tuyến có thể được tĩnh và / hoặc lịch sử thời gian, với các tùy chọn cho FNA phân tích thời gian phi tuyến lịch sử năng động và tích hợp trực tiếp.

Từ một phân tích đơn giản, nhỏ 2D khung tĩnh để phân tích phức tạp lớn 3D nonlinear năng động, SAP2000 là giải pháp hiệu quả nhất dễ dàng nhất cho phân tích cấu trúc của bạn và nhu cầu thiết kế.


Download SAP 14.2.2
http://4share.vn/f/7b484e4f494c4248/
http://www.fshare.vn/file/THQMD2NKRT


Hướng dẫn cài đặt và crack
Sau khi tải về, các bạn chạy file setup.exe để cài đặt. Sau khi hoàn thành quá trình cài đặt, giải nén file S2Kv1422-med.exe vào thư mục C:\Program Files\Computers and Structures\SAP2000 14 và chạy file này lên, nhấn nút Patch để crack. 

Hướng dẫn cài và crack sap2000v14.2.2



Lỗi #17 Hướng dẫn cài sap 2000 v14


Công nghệ mới - Hàn điện xì áp lực nối thép

NDĐT - Thạc sĩ Hoàng Đức Long, Viện nghiên cứu cơ khí đã nghiên cứu và ứng dụng thành công một phương pháp hàn mới, đó là hàn điện xỉ áp lực để hàn nối đối đầu cốt thép phục vụ xây dựng các khu nhà cao tầng, với chất lượng mối hàn cao hơn, giá thành rẻ hơn. Công trình “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ và thiết kế chế tạo thiết bị hàn điện xỉ hàn đối đầu cốt thép trong bê tông nhà cao tầng” của anh đã giành giải nhì giải thưởng VIFOTEC năm 2010
Công nghệ hàn mới được áp dụng tại chung cư ở Hà Đông.
Công nghệ hàn mới được áp dụng tại chung cư ở Hà Đông.
Lâu nay để xây dựng cầu cống, mái che sân vận động, nhà ở cao tầng... người ta thường sử dụng các phương pháp nối cốt thép bằng cách nối buộc chồng, nối dập ép, nối bằng ống ren và nối hàn tiếp xúc... Nhưng các phương pháp này vẫn còn không ít nhược điểm như tiêu tốn cốt thép, năng suất thấp, giá thành cao, chất lượng còn hạn chế.
Năm 2008, thạc sĩ Hoàng Đức Long, Phòng thí nghiệm trọng điểm, Viện nghiên cứu cơ khí, lần đầu tiên triển khai và thực hiện đề tài nghiên cứu, ứng dụng công nghệ hàn điện xỉ áp lực để hàn nối đối đầu cốt thép trong bê tông nhà cao tầng. Từ nguyên lý cơ bản: dùng công nghệ hàn điện xỉ để nung chảy hai đầu cây thép hàn, đồng thời tác dụng lực ép để tạo thành mối hàn, thạc sĩ Long mô tả cây thép phía dưới được nối với cực âm (-) của máy thông qua một kìm hàn, cây thép phía trên được nối với cực dương (+) của máy hàn thông qua một kìm hàn khác. Đồ gá hàn được thiết kế đặc biệt để có thể điều chỉnh được khoảng cách giữa hai cây thép, đồng thời tạo ra lực ép khi kết thúc quá trình hàn.
Với cách hàn như vậy, cây thép phía dưới sẽ là vật hàn, còn cây thép phía trên là điện cực hàn điện xỉ. Hiện tượng phóng hồ quang ở nhiệt độ rất cao sẽ làm nóng chảy toàn bộ bề mặt tiết diện ngang của hai đầu cây thép, mặt khác làm nóng chảy thuốc hàn chung quanh tạo thành bể xỉ. Dòng điện đốt nóng bể xỉ ở nhiệt độ cao, khiến bề mặt các cây thép tiếp tục bị nung chảy đủ để liên kết tạo thành mối hàn. Đồ gá hàn sẽ thực hiện chu trình ép hai đầu cây thép đã nóng chảy tạo thành mối hàn có tiết diện ngang lớn hơn tiết diện của cây thép. Cho nên chất lượng mối hàn cao, không rỗ, không ngậm xỉ và không cần kim loại bù, tạo mối hàn bóng, thẩm mỹ, mặt khác cơ tính tại mối hàn tăng, làm cho khả năng liên kết với bê tông tốt hơn. Thuốc hàn lúc này có hai vai trò chính, dưới tác dụng của hồ quang thuốc hàn sẽ bị nóng chảy và tạo thành xỉ lỏng, đồng thời lượng thuốc hàn xung quanh không bị nóng chảy sẽ đóng vai trò như các má trượt bao bọc xung quanh để tạo bể xỉ.
Ở vị trí ban đầu, hai đầu cây thép tiếp xúc với nhau, sau đó nhờ tay quay điều chỉnh vị trí của đồ gá hàn, hai đầu cây thép tách nhau ra. Lúc này dưới tác dụng của điện áp hàn (40 - 42V), giữa hai đầu cây thép xảy ra hiện tượng phóng hồ quang ở nhiệt độ rất cao sẽ làm nóng chảy toàn bộ bề mặt tiết diện ngang của hai đầu cây thép đồng thời cũng làm nóng chảy thuốc hàn xung quanh. Khi lượng thuốc hàn nóng chảy đủ lớn để tạo thành bể xỉ, đồ gá hàn sẽ đẩy cây thép phía trên về phía bể xỉ. Lúc này hồ quang sẽ tắt, điện áp máy hàn giảm xuống 22 - 25V, dòng điện sẽ truyền từ cây thép phía trên xuống cây thép phía dưới thông qua bể xỉ, dòng điện này sẽ đốt nóng bể xỉ, duy trì nó ở nhiệt độ cao và có tính dẫn điện cao. Nhiệt độ bể xỉ cao hơn nhiệt độ nóng chảy của cây thép. Do vậy, bề mặt các cây thép sẽ tiếp tục bị nung chảy ở nhiệt độ cao của bể xỉ.

Khi lượng kim loại nóng chảy đủ để liên kết tạo thành mối hàn, ngay lập tức, đồ gá hàn sẽ thực hiện chu trình ép hai đầu cây thép đã nóng chảy với nhau để tạo thành mối hàn có tiết diện ngang lớn hơn tiết diện của cây thép.

Sau khi hàn cần giữ mối hàn nguyên trạng trong một thời gian nhất định để làm nguội và đóng cứng bể xỉ nhằm làm đông đặc và bảo vệ kim loại hàn. Sau đó tháo phễu thuốc, gõ xỉ và kiểm tra mối hàn.

Theo thạc sỹ Hoàng Đức Long, thì so với các phương pháp truyền thống đang thực hiện, công nghệ hàn nối đối đầu bằng hàn điện xỉ áp lực có các ưu điểm. Trước hết trang thiết bị hàn gọn nhẹ, dễ sử dụng , có thể thao tác thuận lợi tại các vị trí khác nhau: thẳng đứng, nằm xiên, trong không gian chật hẹp hoặc những trụ thép có nhiều cây cốt thép. Phương pháp hàn điện xỉ áp lực có thể hàn nối các loại cốt thép có tiết diện ngang khác nhau: tròn, vuông, ô van, tam giác, chữ nhật hoặc nối các cốt thép có kích thước khác nhau. Lực ép hai đầu cốt thép không cần quá lớn so với hàn đối đầu tiếp xúc, do vậy đồ gá hàn gọn nhẹ và giá thành thấp.... Đề tài đã được kiểm chứng qua thực tế tại các công trình như khu chung cư và văn phòng (25 tầng) ở đường Quang Trung, Quận Hà Đông (Hà Nội ), do Công ty TNHH xây dựng và thương mại Bình Vượng làm chủ đầu tư. Kho bạc Nhà nước Cần Thơ do Công ty Xây lắp và vật tư xây dựng số 8 thi công. Đồng thời, tác giả và nhóm cộng sự cũng đã cung cấp thiết bị và công nghệ hàn điện xỉ áp lực cho một đơn vị thuộc Tổng Công ty Xây dựng Thuỷ lợi 4 ở miền Trung...
Thẩm định, đánh giá của các chuyên gia khoa học vật liệu cho thấy đề tài của tác giả Hoàng Đức Long đã ứng dụng thành công một phương pháp hàn nối cốt thép hoàn toàn mới ở nước ta, để hàn nối thép cây phục vụ xây dựng các công trình lớn. Điều đáng nói là với công nghệ hàn điện xỉ thông thường, cần cung cấp kim loại bù dể hình thành mối hàn nhưng ở đây để hàn nối cốt thép người thợ sử dụng kim loại nóng chảy của cây thép hàn để tạo mối hàn thông qua lực ép mà không cần kim loại bù. Mặt khác quá trình vận hành, thao tác đơn giản, thuận tiện; thời gian thực hiện một mối hàn ngắn nên năng suất cao, lại tiết kiệm thép, que hàn và dây buộc, dĩ nhiên giá thành hạ so với các kiểu nối cốt thép truyền thống. Mà theo tính toán thì đơn giá mối hàn điện xỉ áp lực thấp hơn nhiều so với mối nối buộc chồng (từ 11-76%), và nối bằng ren (từ 31-60%) tuỳ theo đường kính cây thép.
Với các ưu thế về tính mới, sáng tạo, hiệu quả kinh tế và phạm vi ứng dụng rộng rãi, đề tài “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ và thiết kế chế tạo thiết bị hàn điện xỉ hàn đối đầu cốt thép trong bê tông nhà cao tầng” của Thạc sĩ Long đã được Hội đồng Giám khảo giải thưởng VIFOTEC năm 2010 tặng giải Nhì cuộc thi.
Một số hình ảnh khác về hàn cốt thép

Các lưới cốt thép được hàn trong xưởng hoặc nhà máy




Nghiên cứu so sánh giữa khả năng làm việc của cốt thép có móc uốn chống động đất và cốt thép hàn


Cốt thép giải phân cách được kết hợp bằng liên kết hàn

TP Thanh Hóa lên đô thị loại I. Niềm tự hào của những người con Xứ Thanh

TP Thanh Hóa lên đô thị loại I: Chặng đường 10 năm phấn đấu

(Xây dựng) - Trong những ngày này, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân TP Thanh Hoá (tỉnh Thanh Hóa) đang tất bật, dồn sức chuẩn bị cho lễ đón nhận Quyết định công nhận là đô thị loại I. Đáng chú ý, sự kiện quan trọng này (nếu không có gì thay đổi) sẽ diễn ra đúng vào dịp những ngày lễ lớn của đất nước 30/4, 01/5, đồng thời cũng là dịp TP kỷ niệm 210 năm ngày thành lập đô thị tỉnh lỵ, 20 năm thành lập TP, 50 năm Hàm Rồng chiến thắng.

TP Thanh Hóa về đêm.
Ngược thời gian đúng 10 năm về trước, ngày 29/4/2004, TP Thanh Hoá được Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định công nhận là đô thị loại II. Với tầm nhìn xa, trông rộng, ngay sau đó với sự giúp đỡ của các Bộ, ngành, Trung ương, sự chỉ đạo sát sao của tỉnh, UBND TP đã tiến hành nghiên cứu, lập quy hoạch chung (QHC) điều chỉnh, mở rộng không gian TP. Nhằm đảm bảo công tác QH đạt chất lượng cao, được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, TP đã thuê Tập đoàn Bây-gơ tham gia cùng tư vấn trong nước lập Đồ án QHC mở rộng không gian TP, Đồ án trên đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào tháng 01/2009. Sau khi công bố QH, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo các cấp, ngành liên quan và TP triển khai thực hiện các bước tiếp theo nhằm đưa TP phát triển một cách toàn diện, từng bước xây dựng và hoàn thiện cơ sở vật chất, đáp ứng các tiêu chí của đô thị loại I.
Theo đó, vào tháng 6/2010 và tháng 10/2010, Đại hội Đảng bộ TP và Đại hội Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2010 - 2015 đã ra Nghị quyết về “Xây dựng, phát triển TP Thanh Hóa lên đô thị loại I năm 2014”. Ngoài ra, trong năm 2011, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thanh Hóa cũng đã ban hành nhiều Nghị quyết, kết luận về phát triển TP lên đô thị loại I trước năm 2015 và giao cho TP xây dựng và thực hiện đề án về vấn đề này. Sau khi Đề án của TP được phê duyệt với 3 nhiệm vụ trọng tâm gồm: Tập trung mọi nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội, phát triển kết cấu hạ tầng đô thị, đảm bảo đủ các yếu tố lên đô thị loại I năm 2014; Lập Đề án điều chỉnh địa giới hành chính các huyện Hoằng Hóa, Thiệu Hóa, Đông Sơn, Quảng Xương để mở rộng TP, sáp nhập 19 xã, thị trấn của 4 huyện vào TP; Xây dựng 6 xã Đông Cương, Đông Hương, Đông Hải, Quảng Hưng, Quảng Thành, Quảng Thắng trở thành phường. Để thực hiện mục tiêu này, tháng 6/2011, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện Quyết định số 84/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt QHC mở rộng không gian TP Thanh Hóa và Đề án “Xây dựng, phát triển TP trở thành đô thị loại I trước 2015”. Sau một thời gian chuẩn bị, hoàn tất các thủ tục cần thiết, tháng 02/2012, TP đã tiến hành việc mở rộng địa giới hành chính, sáp nhập 19 đơn vị mới. Sau khi mở rộng, TP có diện tích tự nhiên 146,7km2, dân số 393.294 người. Đến tháng 8/2013, theo Nghị quyết của Chính phủ về việc thành lập 6 phường mới, TP có 37 đơn vị hành chính, gồm 20 phường và 17 xã, dân số đô thị đến tháng 12/2013 là 406.550 người.
Cùng với việc mở rộng địa giới, thành lập thêm 6 phường, trong thời gian qua, được sự quan tâm của các Bộ, ngành, Trung ương, sự chỉ đạo của tỉnh và đầu tư của Nhà nước, thông qua các chương trình, dự án, trong đó có dự án phát triển toàn diện kinh tế - xã hội TP Thanh Hóa. Trong giai đoạn 2010 - 2015, tổng mức đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật đô thị toàn TP đã lên tới 90 nghìn tỷ đồng. Nhờ đó, chỉ trong vài năm trở lại đây, diện mạo của TP đã có sự thay đổi mạnh mẽ, toàn diện với hàng loạt công trình giao thông, nhà ở xã hội, nhà ở cho công nhân khu công nghiệp, nhà ở sinh viên, khu đô thị mới… được khởi công xây dựng và một số đã đưa vào sử dụng. Trong đó, có những dự án (DA), công trình trọng điểm như DA đại lộ nam sông Mã, DA đại lộ đông - tây, DA đường tránh QL1A, các khu đô thị mới nam TP, đô thị mới P.An Hoạch, đô thị mới Quảng Hưng, Quảng Thành… công trình nhà ở cho công nhân khu công nghiệp Lễ Môn, khu nhà ở thu nhập thấp Phú Sơn, nhà ở xã hội tại đô thị nam TP, ký túc xá sinh viên Đại học Hồng Đức… Đặc biệt, khu đô thị mới đông nam TP có diện tích 1.501,5ha, được khởi công xây dựng năm 2012 là khu đô thị đóng vai trò tăng trưởng mới của TP. Theo thiết kế, tại đây sẽ có hàng loạt công trình lớn, với chức năng là Trung tâm Thể dục thể thao, trung tâm thương mại, dịch vụ; khu vui chơi, giải trí; Trung tâm nghiên cứu, ứng dụng, khu R&D (tự lực) có giá trị cao; khu nhà ở dân cư và Trung tâm triển lãm - Hội chợ - Quảng cáo (khởi công tháng 4/2012) được xây dựng trên mặt bằng 150.516m2. Công trình này khi hoàn thành và đưa vào sử dụng sẽ là nơi diễn ra các sự kiện quan trọng về kinh tế - xã hội của tỉnh, xứng tầm với quy mô, tầm vóc của một đô thị loại I khu vực Bắc miền Trung.

Một góc TP Thanh Hóa.
Song song với đầu tư hạ tầng. Trong mấy năm gần đây, TP cũng đã tập trung nâng cao chất lượng đô thị trong tất cả các lĩnh vực. Trước hết, về công tác QH đô thị, đến nay ngoài QHC về điều chỉnh, mở rộng không gian TP, hiện nay TP đã hoàn thành QH phân khu (tỷ lệ 1/2000) trên toàn bộ địa bàn 18 xã, phường cũ. Cùng với đó, ngay sau khi sáp nhập 19 xã, phường, TP đã triển khai nghiên cứu đồng loạt lập QH 100% diện tích sáp nhập và sẽ hoàn tất phê duyệt 100% quy hoạch các phân khu chức năng mới. Về chất lượng nhà ở của nhân dân, hiện tại đạt bình quân đạt 24m2/người, tỷ lệ nhà kiên cố, bán kiên cố nội thành đạt 86,8%. Về giao thông, thông qua hàng loạt DA mới được đầu tư dựa trên QH được lập rất bài bản, đúng hướng. Đến nay, giao thông hướng ngoại của TP đã và đang phát triển mạnh, có đủ đường sắt, đường bộ, đường thuỷ và đường không. Giao thông nội thành đa số được trải thảm áp phan, các chỉ tiêu về mật độ đất dành cho giao thông, mật độ đường chính đều vượt quy định. Về tiêu chí cấp nước, thoát nước đô thị, điện, thông tin liên lạc, chiếu sáng, cây xanh cũng đã được đầu tư mới theo QH, đảm bảo đạt và vượt tiêu chuẩn đô thị loại I. Trong lĩnh vực vệ sinh môi trường, năm 2013, TP được Hiệp hội Đô thị Việt Nam bình chọn là 1 trong 20 đô thị “xanh - sạch - đẹp”.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ về hạ tầng cơ sở, trong lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội, suốt trong 10 năm qua, tốc độ tăng trưởng GDP của TP luôn duy trì ở mức cao và ổn định (có năm đạt tới 20%). Đáng chú ý, trong 3 năm gần đây, mặc dù bị tác động của suy thoái kinh tế, nhưng do có chính sách thu hút đầu tư tốt nên mức tăng trưởng GDP vẫn đạt trung bình 14,9%, thu chi ngân sách luôn vượt kế hoạch. Đặc biệt, thu nhập bình quân đầu người liên tục tăng, năm 2011 đạt 2.716 USD/người/năm; năm 2012 đạt 3.282 USD/người/năm; năm 2013 đạt 3.930 USD/đồng/người/năm.
Nhìn lại chặng đường 10 năm, kể từ ngày TP được công nhận đô thị loại II, xa hơn nữa là 20 năm ngày đô thị tỉnh lỵ được nâng cấp từ thị xã lên TP. TP trẻ bên bờ sông Mã đã có những đổi thay mạnh mẽ, toàn diện, xứng đáng với vai trò trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và khoa học kỹ thuật của tỉnh. Một trong những Trung tâm khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo, y tế - du lịch của tỉnh Thanh Hóa và cả khu vực Bắc Trung bộ, Nam Bắc bộ, là đầu mối giao thông quan trọng của tỉnh và khu vực, cửa ngõ ra biển Đông của các tỉnh đông bắc Lào. Với những lợi thế trên, lại được sự quan tâm đầu tư, hỗ trợ của Nhà nước, của tỉnh. Nhất là sự nỗ lực, phấn đấu của các cấp, ngành và các tầng lớp nhân dân, TP Thanh Hóa đã và sẽ có những bước phát triển, tăng tốc mạnh mẽ trong những năm tiếp theo, góp phần đưa tỉnh Thanh Hóa trở thành tỉnh kiểu mẫu như Bác Hồ từng mong muốn.

Công nghệ bê tông nhẹ trên thế giới


                                
Công nghệ mới Bêtông nhẹ chịu lực
   Áp dụng công nghệ độc đáo, bê tông nhẹ chịu lực của Viện ESCSI, Mỹ kết hợp được các chỉ tiêu kỹ thuạt khác, tạo ra sản phẩm có tính đặc thù. Khách hàng có thể nhận được nhiều lợi ích từ những sản phảm bê tông nhẹ này.
     Thành phần của bê tông nhẹ gồm keramzit là những viên đất sét nung đông nở, xi măng và cát. Cốt liệu nhẹ(keramzit) giúp giảm được nhiều khối lượng của bê tông tới 1200 – 1700 kg/m3(so với 2500 kg/m3 của bê tông thường).Với công thức đặc biệt, bê tông nhẹ có cường độ khá cao tới 40 Mpa trong điều kiện thi công bình thường và cao hơn trong điều kiện thi công đặc biệt. Kết hợp 2 đặc tính(khối lượng nhẹ và cường độ cao) tạo ra cho kết cấu bê tông rất mỏng có thể tới 0,7 cm. Những đặc tính quan trọng khác có thể kể tới là:
-          Tháo ván khuôn nhanh. Ván khuôn có thể tháo sau khi đổ bê tông 24 h;
-          Không co ngót;
-          Chịu nhiệt, cách nhiệt, cách âm, chống thấm…
Đặc biệt, bê tông loại này có thể sử dụng cho các công trình xây dựng dân dụng và công nghiệp với những ưu điểm sau:


Lĩnh vực
Ưu điểm
       1
Dầm, sàn
-      Trọng lượng riêng từ 1200-1900kg/m3 tùy theo mác BT.
-       Dầm và sàn nhẹ hơn so với bê tông thường(tới 2 lần);
-        Bê tông chống thấm cao.
-        Có thể sử dụng sau khi đổ 24 h.Thời gian thi công giảm 40%.
       2
Tường, vách ngăn
-        Tổng khối lượng nhẹ hơn tường xây gạch: 900kg/m3
-        Tường và vách ngăn chống thấm nước;
-      Tăng diện tích sử dụng  nếu làm vách mỏng 3-5 cm.
        3
Sàn nổi trên nước
-         Thi công trên mặt đất khi không có nước, tự nổi theo mức nước;
-          Bền vững


       4
Nhà nổi trên nước
-          Nhà nổi




-          Khách sạn nổi
-          Bể bơi nổi


-          Cầu nổi(cầu phao)
                                            
Gạch bê tông siêu nhẹ

Gạch bê tông tự chèn của chúng tôi là sản phẩm gạch lát nền có cường độ chịu nén cao, khả năng chống mài mòn, chống trượt và thoát nước cục bộ. Đặc biệt, gạch bê tông tự chèn của chúng tôi không bị ảnh hưởng bởi các tác động môi trường như ẩm, nhiễm mặn và hóa chất công nghiệp.


Gạch bê tông [ … ]


Gạch bê tông đặc của chúng tôi là sản phẩm có kích thước : 220 x 105 x 60 mm, sử dụng rất tốt cho xây các công trình cần độ bền vững cao, cần độ chịu lực nén cao, cần khả năng chịu nước như xây móng, xây bể ngầm, xây hệ thống cấp thoát nước, xây các công trình kiên cố hiện đại, nhà cao tầng.



Gạch bê tông rỗng 12 lỗ có kích thước: 240 x 190 x 90 mm. Gạch 12 lỗ của chúng tôi rất thích hợp cho xây các công trình nhà cao tầng kiên cố hiện đại, xây nhà xưởng, tường rào, các công trình dưới nước và trên cạn.

1.Các thông số:
              [ … ]


Công ty chúng tôi chuyên cung cấp gạch bê tông cốt liệu với cường độ nén cao tới các công trình xây dựng với giá cạnh tranh. Gạch bê tông cốt liệu là sản phẩm gạch làm từ nguyên liệu: xi măng, cát, đá dăm sau khi pha trộn theo tỷ lệ nhất định rồi được ép bằng máy với cường độ cao do vậy mà sản phẩm [ … ]

Gạch block bê tông

Chúng tôi chuyên cung cấp gạch block bê tông nhẹ cho các công trình xây dựng lớn, vừa và nhỏ. Với giá cả cạnh tranh, chúng tôi sẵn sàng phục vụ quý khách hàng với chất lượng sản phẩm và chất lượng dịch vụ tốt nhất.


Đặc điểm sản phẩm Gạch block bê tông:
- Đã được Nhiệt đới hóa: xây trát bình [ … ]

Gạch nhẹ chưng áp

Sản phẩm được tạo thành từ các loại nguyên liệu xi măng, vôi, cát vàng, nước và phụ gia tạo khí, không nung, thân thiện với môi trường

Tính năng nổi bật Gạch nhẹ chưng áp:
- Kích thước đa dạng: Kích thước theo đơn đặt hàng, hiện kích thước các sản phẩm có sẵn: 600 x 200 x 200 mm; 600 x 200 x

Gạch không nung siêu nhẹ

Với những tính năng ưu việt và chính sách hợp lý, sản phẩm gạch không nung xây của chúng tôi trong thời gian qua đã nhận được sự ủng hộ của đông đảo khách hàng, các nhà đầu tư xây dựng. Sản phẩm gạch không nung xây của chúng tôi đã được sử dụng trong các công trình lớn trên cả nước.

- Gạch [ … ]


Gạch bê tông nhẹ có hai loại cơ bản là gạch bê tông nhẹ bọt và gạch bê tông nhẹ khí chưng áp. Sản suất bằng công nghệ tạo bọt, khí trong kết cấu nên tỷ trọng viên gạch giảm đi nhiều và nó trở thành đặc điểm ưu việt nhất của loại gạch này.
Gạch bê tông nhẹ của chúng tôi ra đời với những ưu điểm nổi [ … ]


  
Đặc điểm nổi trội
Mới đây nhất, trong Quyết định 567/QĐ-TTg ngày 28/04/2010 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt tổng thể quy hoạch ngành vật liệu xây dựng ở Việt Nam, Chính phủ đã giao Bộ Xây dựng chủ trì xây dựng chương trình phát triển vật liệu xây dựng không nung đến năm 2020 trong đó có giải pháp thay thế từng bước các loại vật liệu truyền thống bằng vật liệu xây dựng mới nhằm mục đích bảo vệ môi trường sống cho tương lai. Trong đó, Gạch bê tông sản xuất bằng công nghệ Khí chưng áp là loại vật liệu xây dựng không nung được Chính phủ Việt Nam chọn làm giải pháp thay thế các sản phẩm vật liệu xây dựng bằng đất sét nung truyền thống vì những đặc tính ưu việt nổi trội của nó. Gạch EBLOCK (AAC) là gạch bê tông nhẹ cao cấp được Công ty Cổ phần Gạch Khối Tân Kỷ Nguyên sản xuất theo công nghệ Khí chưng áp ở nhiệt độ và áp suất cao theo công nghệ của Đức. Đây là sản phẩm Gạch bê tông nhẹ cao cấp đầu tiên được sản xuất ở Việt Nam đáp ứng tiêu chuẩn về TCVN 7959:2008.
Trọng lượng nhẹ                            
 
                               
Gạch bê tông nhẹ EBLOCK nhẹ hơn từ ½ đến 1/3 so với gạch đất nung và chỉ bằng ¼ trọng lượng gạch bê tông thường. Nguyên nhân chính là do kết cấu bọt khí chiếm đến 80% toàn bộ cấu tạo bên trong viên gạch. Đây là đặc tính nổi trội giúp tiết kiệm lượng vật liệu làm khung, móng cọc, cũng như giúp vận chuyển, thi công dễ dàng.               
                                 
Cách nhiệt và tiết kiệm năng lượng                        
 
                               
Gạch bê tông nhẹ EBLOCK có hệ số dẫn nhiệt rất thấp, vì vậy sẽ dẫn đến hiệu ứng đông ấm, hạ mát. Cũng nhờ vậy, mức điện dùng cho điều hòa nhiệt độ được tiết kiệm đến 40%, tạo giá trị lâu dài cho người sử dụng. Đồng thời, tường ngăn xây bằng gạch bê tông nhẹ EBLOCK  có thể chịu đựng trên mức 1200 độ C của những đám cháy thông thường và không thay đổi kết cấu khi bị phun nước lạnh đột ngột. Kết quả thử nghiệm cho thấy bức tường xây bằng gạch bê tông nhẹEBLOCK đảm bảo an toàn tối thiểu là 4 tiếng trong đám cháy.                  
                                 
Độ chính xác cao                             
 
                               
Gạch bê tông nhẹ EBLOCK có kích thước xây dựng khá lớn, được sản xuất theo đúng kích thước quy chuẩn, giúp việc xây tường có độ chính xác cao, giảm thất thoát lượng vữa để trát phẳng mặt. Chính điều này góp phần giảm chi phí vữa và thời gian hoàn thành so với gạch đất nung thông thường.                             
                                 
Thân thiện môi trường                  
                                 
Gạch bê tông nhẹ EBLOCK có kích thước xây dựng khá lớn, được sản xuất theo đúng kích thước quy chuẩn, giúp việc xây tường có độ chính xác cao, giảm thất thoát lượng vữa để trát phẳng mặt. Chính điều này góp phần giảm chi phí vữa và thời gian hoàn thành so với gạch đất nung thông thường.                              
Cách âm tốt
                 
 Gạch bê tông nhẹ EBLOCK có cách tản âm tự nhiên nhờ vào cấu trúc bọt khí và khả năng hấp thụ âm thanh vượt trội. Dù âm thanh từ bên ngoài đi vào phòng hay từ trong phòng đi ra đều bắt buộc chuyển động theo đường zig-zag, sóng âm bị chia nhỏ dần tại các đường gãy và giảm đến mức tối thiểu khi xuyên được qua tường.
                   
Độ bền vững cao
                 
 Gạch bê tông nhẹ EBLOCK là loại vật liệu xây dựng có tính đồng nhất, có gốc là bê tông và được dưỡng hộ trong điều kiện hơi nước bão hòa áp suất cao. Nhờ quá trình chưng áp, các thành phần hóa học và cấu trúc tinh thể được ổn định để tạo ra kết cấu vững chắc bao gồm chủ yếu là khoáng tobermorite. Vì thế, gạch bê tông nhẹ EBLOCK có độ bền vững theo thời gian, có cường độ chịu lực cao nhất trong các loại vật liệu có dạng xốp và ổn định hơn các dạng gạch bê tông thông thường.

                 

 
Chống nhiều loại côn trùng
                 
  Là loại vật liệu không bị tấn công bởi mối, mọt, kiến  hoặc các sinh vật khác trong điều kiện khí hậu nhiệt đới.

Đầu tư vật liệu nhẹ: Lợi lâu dài

Mặc dù chiếm ưu thế hiện nay vẫn là vật liệu xây dựng truyền thống nhưng vật liệu nhẹ mới là xu hướng đầu tư có lợi và lâu dài trong tương lai.

Tại một số nước phát triển, vật liệu nhẹ (vật liệu không nung) rất phổ biến. Chẳng hạn tại Mỹ, các nước Tây Âu và Nhật, tỉ lệ sử dụng vật liệu xây dựng nhẹ cao hơn 70% so với vật liệu truyền thống. Trong khi đó, ở Việt Nam, vật liệu nhẹ vẫn chưa phổ biến, tỉ lệ sử dụng chỉ từ 4-5%. Đây là nhận định của ông Phan Hoài Thanh, Tổng Giám đốc Công ty Gạch khối Tân Kỷ Nguyên, 1 trong 2 công ty sản xuất gạch không nung tại Việt Nam hiện nay.
Thị trường còn trống
Trong 2 năm gần đây, các loại vật liệu xây dựng nhẹ xuất hiện trên thị trường Việt Nam chủ yếu là hàng nhập khẩu từ Thái Lan, Trung Quốc. Do đó, giá rất cao, ví dụ như gạch không nung có giá cao gấp 2, 3 lần giá gốc. Ngoài ra, việc đầu tư cho một nhà máy sản xuất vật liệu nhẹ không đơn giản, đòi hỏi vốn lớn và dây chuyền sản xuất chủ yếu nhập ngoại, do đó, giá thành sản phẩm khó mà thấp được.
Theo ông Thanh, riêng gạch bê-tông nhẹ có đến 2 loại là gạch bê-tông khí và bê-tông bọt. Hiện nay, trong nước chỉ mới có 2 công ty sản xuất và kinh doanh gạch bê-tông khí là Tân Kỷ Nguyên và Minh Đức (Lâm Đồng). Gạch bê-tông bọt thì cần vốn đầu tư thấp hơn, chỉ khoảng vài tỉ đồng. Do đó, hiện đã có vài doanh nghiệp sản xuất và một số nhà máy cung ứng dây chuyền sản xuất loại gạch này như Công ty Phát triển Thị trường Công Nghiệp TTM, Công ty CHITA Việt Nam...
Riêng các loại vữa nhẹ và vữa chuyên dụng dùng cho gạch không nung chủ yếu vẫn nhập từ Thái Lan và Trung Quốc. Ông Thanh cho biết, Tân Kỷ Nguyên đang có kế hoạch sản xuất loại vữa này, nhưng cho đến nay vẫn chưa thể nói trước được điều gì bởi Công ty mới ở giai đoạn ban đầu và đang tập trung sản xuất, kinh doanh gạch không nung là chủ yếu.
Để tham gia thị trường, cách đây khoảng một năm, trước khi nhà máy sản xuất của Công ty bắt đầu vận hành, Tân Kỷ Nguyên đã nhập khẩu và phân phối gạch không nung của Thái Lan. Tuy nhiên, chi phí vận chuyển cao và thuế đã đội giá lên khiến Công ty chỉ đủ thu bù chi mà không có lời. Do đó, ông Thanh cho rằng nếu các công ty kinh doanh vật liệu nhẹ bằng con đường nhập khẩu thì sẽ không sống được về lâu dài.
Hiện nay, Tân Kỷ Nguyên đã đầu tư 150 tỉ đồng cho giai đoạn 1 của nhà máy sản xuất gạch không nung có công suất 80 triệu viên/năm. Giá sản phẩm, theo ông Thanh, là thấp hơn từ 20-30% so với sản phẩm nhập từ Thái Lan.
Hướng tốt, lợi lâu dài
Trên thực tế, nếu so sánh thì đầu tư vào gạch nung truyền thống vẫn cho lợi nhuận nhiều hơn so với các loại vật liệu nhẹ như gạch không nung hay vữa. Song, về lâu dài, theo đại diện của Tân Kỷ Nguyên, những loại vật liệu nhẹ mới chính là xu hướng tốt và có khả năng mang lại lợi nhuận lớn hơn cho nhà đầu tư.
alt
Nhà máy sản xuất gạch không nung của Công ty Tân Kỷ Nguyên.
Cái lợi lâu dài chính là yêu cầu ngày càng cao của xã hội cả về chất lượng sản phẩm lẫn những yếu tố khác như tiết kiệm hay tránh những tác động xấu đến môi trường. Theo nghiên cứu của Viện Vật liệu Xây dựng (Bộ Xây dựng), gạch không nung tốt và tiết kiệm hơn hẳn so với gạch nung. Ví dụ, một công trình nếu được xây bằng vật liệu nhẹ sẽ giảm được 10-25% khối lượng thép, giảm 12-20% kết cấu móng, tải trọng công trình giảm khoảng 15% và chi phí xây dựng phần thô sẽ giảm đáng kể.
Còn theo tính toán của Tổng Hội Xây dựng Việt Nam, mỗi năm, Việt Nam tiêu thụ từ 20-22 tỉ viên gạch, đến năm 2020, lượng gạch cần cho xây dựng ước tính tăng gấp đôi, khoảng 40 tỉ viên. Có nghĩa là, vào năm 2020, theo Quyết định số 567/QĐ-TTg, riêng gạch không nung sẽ chiếm khoảng 13 tỉ viên. Đây là tiềm năng rất lớn mà các nhà đầu tư ngành này có thể tập trung khai thác.
Cùng nhận định trên, ông Nguyễn Kim Khanh, Giám đốc Công ty Vật liệu Xây dựng Vinh Sơn (TP.HCM), chuyên cung cấp máy làm gạch không nung, cho biết, nhu cầu tiêu dùng thế giới đang hướng về những loại vật liệu nhẹ. Do đó, để phù hợp với nhiều loại địa hình cũng như tiết kiệm vật liệu và bảo vệ môi trường, các nhà đầu tư nên chọn vật liệu nhẹ.
Tuy nhiên, bên cạnh đó, do vật liệu nhẹ được nhận định là một thị trường mới và đầy tiềm năng nên cũng chứa đầy những thách thức. Vì chắc chắn sẽ có nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước “lăm le” nhảy vào. Điển hình là Công ty Shandong Yuanyou (Sơn Đông, Trung Quốc) đang kết hợp với Công ty Vinh Sơn để phân phối vữa nhẹ sang Việt Nam, thời gian dự kiến là khoảng đầu tháng 8 này.
Nếu không chuẩn bị kỹ càng, các nhà đầu tư trong nước có thể sớm bị mất thị trường, nhất là khi có bất ổn về giá và chất lượng. Ông Thanh, Tân Kỷ Nguyên, cho rằng, hiện đã có những công ty nhập hàng kém chất lượng từ Trung Quốc về Việt Nam bán với giá thấp. Điều này sẽ gây nguy hiểm vì dễ dẫn đến khả năng phá vỡ thị trường.
Tác giả: Lan Ca     NCĐT